MỤC ĐÍCH - PHẠM VI

Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến (Journal of Science Van Hien University) là ấn phẩm khoa học của Trường Đại học Văn Hiến được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động số 315/GP-BTTTT vào ngày 13/8/2013. Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và phổ biến rộng rãi đến độc giả, ngoài loại hình in, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến đã được cấp phép xuất bản loại hình điện tử theo giấy phép số 75/GP-BVHTTDL của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, ngày 15/7/2025.

Mục tiêu của tạp chí là công bố kết quả nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, sinh viên liên quan đến lĩnh vực đào tạo của Trường Đại học Văn Hiến, giới thiệu những thành tựu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến các lĩnh vực đào tạo của Đại học Văn Hiến, tạo diễn đàn để các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên trong và ngoài trường trình bày các quan điểm về học thuật, các kết quả từ các công trình nghiên cứu khoa học mang tính sáng tạo, và ứng dụng cao vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới.

Các bài viết dưới dạng tổng quan (review) và nghiên cứu (research article) đa dạng và phong phú trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, Văn học, Tâm lý học, Văn hóa, Công nghệ thông tin, Nghệ thuật, Công nghệ Thực phẩm, Nông nghiệp, Kỹ thuật - Công nghệ,… Tạp chí được phát hành rộng rãi đến các trường Đại học, Cao đẳng, Viện, Trung tâm nghiên cứu, cũng như các độc giả trong cả nước.

Từ năm 2017, tạp chí đã có 03 ngành trong danh sách các tạp chí được tính điểm trong danh mục tạp chí của Hội đồng Giáo sư Nhà nước: Văn học, Kinh tế và liên ngành Văn hóa Nghệ thuật - Thể dục Thể thao - Du lịch. Hiện nay, tạp chí đã có 04 ngành được công nhận: Văn học (0,75), Kinh tế (0,5), Văn hóa Nghệ thuật - Thể dục Thể thao - Du lịch (0,5), Giáo dục học (0,25).

Các bài viết gửi đến tạp chí đều được kiểm tra trùng lắp và phản biện kín hai chiều nhằm đảm bảo tính học thuật và quy định liêm chính khoa học. Toàn bộ quá trình biên tập đều được xử lý trên hệ thống xuất bản trực tuyến theo quy trình từ khi nhận bài đến khi xuất bản tạp chí bản in và bản điện tử.

 

Thông báo / Tin tức

Điểm công trình khoa học HĐGSNN năm 2025

Năm 2025, Tạp chí khoa học Đại học Văn Hiến đã được Hội đồng Ngành, Liên ngành thuộc Hội đồng Giáo sư Nhà nước duy trì công nhận điểm các ngành (theo Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025):

Ngành

Điểm công trình

Danh mục tạp chí được tính điểm

Văn học

0,75

Vanhoc

Kinh tế

0,5

Kinhte

Liên ngành Văn hóa - Nghệ thuật - Thể dục Thể thao

0,5

VH_NT_TDTT

Khoa học Giáo dục

0,25

Giaoduc

Đã đăng: 26-12-2024

Ngôn ngữ nghệ thuật sử thi Ẳm Ệt của người Thái ở Việt Nam

Lê Thị Hiền
Bản điện tử: 28 Thg 4 2026 | DOI: 10.58810/vhujs.11.2.2026.916
Tóm tắt | PDF (224.7K)

Tóm tắt

Ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị và sự độc đáo của sử thi Ẳm ệt - một kiệt tác văn học dân gian của người Thái ở Việt Nam. Bằng sự sáng tạo và tinh tế, tác giả dân gian đã vận dụng ngôn ngữ một cách khéo léo để tái hiện bức tranh vũ trụ và vạn vật trong thời kỳ sơ khai của dân tộc Thái, mang lại sự sống động và cuốn hút cho tác phẩm. Việc nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong sử thi Ẳm ệt không chỉ giúp làm sáng tỏ những giá trị nội dung, mà còn góp phần khám phá chiều sâu văn hóa, nghệ thuật độc đáo của người Thái. Qua đó, nghiên cứu góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện đại.

Giá trị của từ xưng hô trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Huỳnh Thị Mai Trinh, Lê Hữu Nhật Duy & Lê Dương Khắc Minh
Bản điện tử: 28 Thg 4 2026 | DOI: 10.58810/vhujs.11.2.2026.879
Tóm tắt | PDF (219.9K)

Tóm tắt

  Trong giao tiếp cũng như trong văn học, từ xưng hô chiếm một vị trí quan trọng, thể hiện căn tính văn hóa của chủ thể phát ngôn cũng như đặc điểm nhận dạng vùng miền. Nhắc đến văn học miền Nam, từ buổi giao thời, Hồ Biểu Chánh (1885-1958) là cây bút lớn chuyên sử dụng chữ quốc ngữ kết hợp với phương ngữ Nam Bộ để sáng tác văn học, bao gồm hệ thống từ xưng hô được nhà văn khai thác. Bài viết tập trung nghiên cứu về giá trị của từ xưng hô trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh nhằm làm rõ những tác động của nó đến sự hình thành văn hóa giao tiếp cũng như đặc trưng văn hóa riêng biệt ở Nam Bộ, được thể hiện thông qua việc định hình mối quan hệ thân quen, mối quan hệ xa lạ và hiện tượng gộp âm cũng như cách biểu thị thái độ trong giao tiếp. Qua đó, bài viết góp phần làm nổi bật nét độc đáo của ngôn ngữ sinh hoạt vùng miền trong mối quan hệ với ngôn ngữ toàn dân.

Tội lỗi và chấn thương trong ký ức văn hóa và văn học Đức sau 1945

Ngô Thị Thu Thủy
Bản điện tử: 28 Thg 4 2026 | DOI: 10.58810/vhujs.11.2.2026.974
Tóm tắt | PDF (280K)

Tóm tắt

Bài viết thuộc lĩnh vực nghiên cứu ký ức văn hóa và văn học, tập trung vào trải nghiệm chấn thương của cộng đồng thủ phạm người Đức sau Thế chiến II và cuộc diệt chủng người Do Thái Châu âu (Holocaust). Trong đó, nghiên cứu đặt vấn đề tội lỗi tập thể như một dạng chấn thương văn hóa, và văn học Đức hậu chiến đã góp phần biểu đạt, thương thảo và hóa giải chấn thương ấy. Lý thuyết chấn thương kết hợp phương pháp phân tích diễn ngôn với việc khảo sát văn học Đức sau 1945 được sử dụng để khám phá sự kìm nén của diễn ngôn tội lỗi đối với nỗi đau của người Đức và sự hồi sinh của ký ức chấn thương này về sau, khi thế hệ con cháu đối diện với ký ức gia đình. Qua đó, nghiên cứu góp phần mở rộng lý thuyết chấn thương sang cộng đồng thủ phạm và khẳng định vai trò của văn học trong việc kiến tạo ký ức văn hóa và thúc đẩy tiến trình “đối mặt quá khứ” (Vergangenheitsbewältigung) trong xã hội hậu chấn thương.

Tiếp nhận W. G. Sebald ở Việt Nam

Võ Nguyễn Bích Duyên
Bản điện tử: 28 Thg 4 2026 | DOI: 10.58810/vhujs.11.2.2026.943
Tóm tắt | PDF (313.6K)

Tóm tắt

Được đánh giá là một trong những nhà văn lớn của văn học thế giới cuối thế kỷ XX, W. G. Sebald (1944 - 2001) cùng các tác phẩm của ông đã được đón nhận rộng rãi, nồng nhiệt ở nhiều quốc gia trong nhiều thập kỷ vừa qua. Riêng ở Việt Nam, tác phẩm của Sebald chỉ thật sự bắt đầu được giới thiệu vào năm 2019 khi tác phẩm Die Ausgewanderten (The Emigrants) được dịch và xuất bản với tên gọi Ký ức lạc loài. Nhằm phác thảo lại hành trình các tác phẩm của Sebald đến với bạn đọc Việt Nam, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh để đánh giá sự tiếp nhận của độc giả nước ta với tác phẩm của ông chủ yếu qua dịch thuật, xuất bản, nghiên cứu và phê bình. Thực tế việc tiếp nhận ở Việt Nam cho thấy các tác phẩm của nhà văn người Đức chưa thực sự được quan tâm tương xứng với tầm vóc của chúng, do vậy, cần phải có thêm nhiều hoạt động để Sebald được công nhận rộng rãi hơn.

Các câu chuyện gái giang hồ từ góc độ xã hội học văn học (Làm đĩ, Đời mưa gió, Bỉ vỏ)

Phạm Trần Thế Vinh & Trương Thị Trúc Quyên
Bản điện tử: 28 Thg 4 2026 | DOI: 10.58810/vhujs.11.2.2026.911
Tóm tắt | PDF (236.5K)

Tóm tắt

Bài viết khảo sát hình tượng gái giang hồ trong văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 qua ba tác phẩm tiêu biểu: Làm đĩ (Vũ Trọng Phụng), Đời mưa gió (Nhất Linh - Khái Hưng) và Bỉ vỏ (Nguyên Hồng). Trên cơ sở tiếp cận xã hội học văn học, đặc biệt là khái niệm “định chế xã hội”, bài viết lý giải sự “sa ngã” của các nhân vật nữ không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là sản phẩm của những định kiến và áp lực từ hệ thống nam quyền. Qua hai hướng phân tích: sự lệch chuẩn do định chế đạo đức và hành vi phản kháng trước định chế, bài viết cho thấy gái giang hồ không đơn thuần là nạn nhân mà còn là chủ thể có ý thức, phản ánh sự giằng co giữa cá nhân và xã hội. Từ đó, bài viết góp phần nhìn lại vai trò phản biện xã hội của văn học hiện thực cũng như mở rộng cách hiểu về hành vi “sa ngã” trong mối quan hệ giữa giới, đạo đức và quyền lực.