Nguyễn Nguyễn Thị Thu Giang *

* Correspondence: Nguyễn Nguyễn Thị Thu Giang (email: 23922012001@hcmussh.edu.vn)

Main Article Content

Abstract

Comparative literature in the context of East Asia is becoming a new trend in current research. Using a narrative approach, this article delves into the fundamental elements of the narrative art of two works: Nguyễn Dữ’s Truyền kỳ mạn lục and Ueda Akinari’s Ugetsu Monogatari including plot, storytelling methods (narrator, point of view, storytelling), narrative time and space. Although both works are influenced on the art of narrative by Jiandeng Xinhua, they also possess distinctive features reflecting the culture and society of each nation and demonstrating the independent development of the chuanqi genre in Vietnam and Japan. While Truyền kỳ mạn lục embodies Confucian values with a narrative style deeply rooted in Vietnamese folklore and historical prose, Ugetsu Monogatari develops a modern narrative style, focusing on character psychology and urban life. Comparing these two works highlights the diversity and richness of the chuanqi genre in East Asia and confirms the systematic development of this genre, from folk tales to literary works with artistic depth.
Keywords: comparative literature, East Asian chuanqi, narrative art, Nguyễn Dữ, Ueda Akanari

Article Details

References

Đoàn Lê Giang (2009). Thời trung đại trong văn học các nước khu vực văn hóa chữ Hán. Nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/van-hoc-nuoc-ngoai-va-van-hoc-so-sanh/109-thi-trung-i-trong-vn-hc-cac-nc-khu-vc-vn-hoa-ch-han.html.

Đoàn Lê Giang, Nhật Chiêu và Trần Thị Phương Phương (tuyển chọn) (2013). Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á. Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá - văn nghệ.

Đoàn Lê Giang (2017). Suy nghĩ thêm về Vũ Nguyệt Vật Ngữ của Ueda Akanari và thử so sánh với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. In trong Phan Thị Thu Hiền, Lý Xuân Nhung, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Lê Giang và Nguyễn Thị Diệu Linh (2017). Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á. Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa - Văn nghệ.

Đỗ Thị Mỹ Phương (2017). Sự biến đổi lời văn nghệ thuật trong truyện truyền kỳ trung đại. Nguồn: http://vanhoanghethuat.vn/su-bien-doi -loi-van-nghe-thuat-trong-truyen-truyen-ky-trung-dai.htm

Nguyễn Dữ (2001). Truyền kỳ mạn lục (Trần Thị Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lý). Hà Nội, Nxb Văn học.

Nguyễn Nam (2005). Writing as response and as translation: Jiandeng xinhua and evolution of the chuanqi genre in East Asia, particurly in Vietnam. Harvard University.

Nguyễn Nam Trân (2011). Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản. Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh (1995). Ca tì tử và Vũ nguyệt vật ngữ với Truyền kỳ mạn lục. Tạp chí Hán Nôm, 4.

Phan Thị Thu Hiền, Lý Xuân Nhung, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Lê Giang và Nguyễn Thị Diệu Linh (2017). Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á. Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa - Văn nghệ.

Pospelov, G. N. (chủ biên). (1998). Dẫn luận nghiên cứu văn học (Sách tái bản). Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch. Hà Nội, Nxb Giáo dục.

Trần Đình Sử (chủ biên) (2022). Tự sự học từ kinh điển đến hậu kinh điển. Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam.

Trần Ích Nguyên (2000). Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục. Phạm Tú Châu, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Thị Ngân dịch. Hà Nội, Nxb Văn học.

Trần Nghĩa (1987). Thử so sánh Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại. Tạp chí Hán Nôm, 1.

Ueda Akinari (2022). Hẹn mùa hoa cúc. Nguyễn Trọng Định dịch. Hà Nội, Nxb Kim Đồng.