Dinh Thi Oanh *

* Correspondence: Dinh Thi Oanh (email: dinhngocoanhvhu@gmail.com)

Main Article Content

Abstract

Literature in the magazine Nam ky dia phan during the early 20th century stood out with diverse themes that captivated contemporary readers. Among the notable authors of this era, Phêrô Nghĩa stands out for his works that illustrate the intersection of symbolic meanings across the realms of religion, culture, and literature. This article analyzes two artistic symbols in his representative novels, specifically the symbols of water and snakes in Cha Giết Con and Đôi Bước Lưu Ly, aiming to explore the author's artistic proficiency. Employing a socio-historical method alongside an interdisciplinary approach that incorporates religion and culture, this article delves into the layers of meaning concealed within the imagery of water and snakes. The significance of these two symbols is dual-faceted, evoking both positive and negative interpretations. However, given the author's Catholic background, there is a tendency towards a more negative meaning, reflecting the impressive narratives found in the Bible, while still resonating with Vietnamese national culture. This demonstrates his talent for artistic innovation in the field of early 20th-century novels.
Keywords: Cha giet con, Doi buoc luu ly, Nam Ky dia phan, Phero Nghia, water and snake symbols.

Article Details

References

Các Giờ Kinh Phụng Vụ (1998). Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước. Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

Catholic Church (1997). Catechismus catholicae ecclesiae. Hội đồng Giám mục Việt Nam - Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin dịch (2012). Sách giáo lý của Hội thánh Công giáo. Hà Nội, Nxb Tôn giáo.

Chevalier J. và Gheerbrant A. (1982). Dictionnaire des symboles: mythes, rêves, coutumes, gestes, formes, figures, couleurs, nombres. Phạm Vĩnh Cư chủ biên, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khanh, Nguyễn Ngọc, Vũ Đình Phòng và Nguyễn Văn Vỹ dịch (1997). Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới: Huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số. Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng - Trường Viết văn Nguyễn Du.

Đỗ Quang Hưng (2020). Có một nền văn học Công giáo Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu văn học, chuyên san Văn hóa, văn học Công giáo Việt Nam - Diện mạo và đặc sắc, 7(581): 5-12.

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006). Từ điển thuật ngữ văn học. Hà Nội, Nxb
Giáo dục.

Nguyễn Đức Toàn (2015). Biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 7(92): 104-108.

Nguyễn Hữu Sơn (2020). Lời đầu số. Tạp chí Nghiên cứu văn học, chuyên san Văn hóa, văn học Công giáo Việt Nam - Diện mạo và đặc sắc, 7(581): 3.

Nguyễn Thế Thuấn dịch (1976). Kinh thánh. Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Dòng Chúa Cứu Thế.

Phan Phát Huồn (1965). Việt Nam giáo sử, quyển I (1533-1933) (in lần thứ 2). Sài Gòn, Cứu thế tùng thư.

Trăng Thập Tự (chủ biên), Nguyễn Hữu Sơn, Võ Văn Nhơn, Bùi Công Thuấn, Nguyễn Vy Khanh (2022). Hướng đến 400 năm văn học Công giáo Việt Nam (1632-2032), Quyển II. Quy Nhơn, Tủ sách Nước Mặn.

Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh - Khoa Ngữ văn (1993). Về sách báo của tác giả Công giáo (thế kỷ XVII - XIX) (Tài liệu tham khảo).

Võ Văn Nhơn (2002). Truyện và tiểu thuyết trên báo Nam Kỳ địa phận. Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn, 20:
58-62.

Võ Văn Nhơn (2008). Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Luận án Tiến sỹ Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.